Tin tức
Trang chủ > Tin tức > Tin giáo dục > Những tấm gương hiếu học, hiếu thảo thời xưa.

Những tấm gương hiếu học, hiếu thảo thời xưa.

Dân tộc Việt Nam ta là một dân tộc thông minh và có truyền thống hiếu học. Những tấm gương hiếu học của ông cha phần lớn đã được ghi vào sử sách, song cũng có nhiều tấm gương ít được biết đến.

Chủ đề: Gương hiếu học

1.VƯƠNG SUNG : ĐÓNG CỬA ĐỌC SÁCH

 

Vương Sung (27-97) tự là Trọng Nhiệm, người Cối Kê là nhà tư tưởng gia đời Đông Hán.Vương Sung đọc hết sách thiên hạ, cực kỳ uyên bác. Ông phản đối sự mê tín, quái dị, phê phán quan điểm ông trời chủ trương tất cả mọi việc. Tác phẩm của ông “Luận hành” bị bọn thống trị đương thời gọi là “dị đoan tà thuyết” cấm không cho dân chúng đọc, nhưng trong lịch sử, ông là một nhà tư tưởng tiến bộ.

Khi Vương Sung còn nhỏ đã thích một mình cô độc chứ không ưa đùa giỡn chỗ đông người, cha cậu thấy vậy rất lấy làm lạ nói với cậu :

- Con thấy các đứa trẻ khác đều chơi đùa vui vẻ, sao con không ra chơi với chúng ?

Cậu cúi đầu đáp :

- Những trò của chúng chỉ là bắt chim đuổi bướm, chẳng có ý nghĩa gì con không thích.

- Thế con thích gì nào ?

- Con chỉ thích viết chữ đọc sách.

Cha cậu rất hài lòng nên bắt đầu dạy cậu học từ rất sớm, lúc ấy cậu mới 6 tuổi. Hai năm sau, cậu 8 tuổi, cha cậu đưa cậu đến trường đọc sách.

Trong thư trường cổ hơn trăm học sinh nhưng thành tích học tập không giống nhau. Thời xưa, đứa trẻ nào lười học bị các thầy đánh bằng thước kẻ hoặc roi. Trong trường hôm nào cũng có học sinh bị đòn, chỉ có mình Vương Sung chưa hề bị đòn lần nào. Kết quả so với chúng bạn, Vương Sung học được nhiều hơn hết.

Có một lúc, thầy dạy cậu sách “Luận ngữ” và “Thượng thư”, sau hai hôm, thầy bắt cậu đọc thuộc. Cậu đọc không sai một chữ, thầy vừa kinh ngạc vừa vui mừng hỏi cậu :

- Những học sinh khác ai cũng sợ hai sách ấy, tại sao con lại học mau đến vậy ?

Vương Sung đáp :

- Thưa thầy, mỗi lần thầy dạy một đoạn nào con liền thuộc ngay đoạn ấy, một ngày con có thể thuộc hơn ngàn chữ, do đó thầy vừa dạy xong, con liền thuộc hết!

- Con thật biết dụng công đó.

Thầy giáo khên ngợi cậu, vì Vương Sung học tiến bộ mau như vậy nên đến năm 15 tuổi, cậu được đưa lên kinh thành Lạc Dương cho vào trường Thái học gọi là “thiếu niên Thái học sinh”.

Trong trường Thài học ở Lạc Dương, Vương Sung như kẻ đói khát lâu ngày, cậu vồ vập đọc tất cả mọi loại sách, thầy dạy cậu bây giờ là vị học giả Ban Bưu. Vương Sung theo Ban Bưu đọc rất nhiều sách cổ. Rất mau cậu đã trở thành một học sinh xuất sắc trong trường Thái học, Ban Bưu hết sức yêu quý cậu.

Không lâu sau, Ban Bưu phát hiện phương pháp học của cậu học trò Vương Sung rất khác so với những bạn, những học sinh khác sau khi tan lớp liền bỏ đi chơi, có muốn chúng đọc lại bài cũ vừa mới học, họ chẳng còn nhớ gì, còn Vương Sung từ nhỏ đã thuộc khá nhiều sách nhưng bây giờ cậu lại không học thuộc nữa mà còn tỏ ra hoài nghi những điều chép trong sách. Ngoài ra, cậu chẳng những chỉ đọc sách nhà nho mà còn đọc bất cứ loại sách gì cậu tìm được, dần dần bao nhiêu sách trong trưởng Thái học cậu đều đọc hết. Có lần nhắc tới Vương Sung với mấy học sinh khác, thầy Ban Bưu khen cậu :

- Hiểu biết của Vương Sung rộng lớn, với cái đà này, các con không bằng nó đâu.

Một học sinh gật đầu :

- Vâng, hôm nọ con ra chợ mua mấy đồ vặt vãnh bắt gặp Vương Sung đứng trong tiệm sách đọc hết cuốn này đến cuốn khác khiến người ta hô hoán mà lên mà y chẳng nge thấy gì cả.

Một học sinh khác hỏi :

- Sao y không mua về mà đọc việc gì phải đọc trong tiệm sách ?

Học sinh kia trả lời :

- Các bạn không biết vì gia cảnh Vương Sung rất nghèo, đâu có tiền mà mua sách ? Y cứ vào tiệm sách đọc lén đâu phải chỉ một vài lần, vả chăng trong tiệm sách còn có những cuốn sách lạ mà trong Thái viện không có.

- Thảo nào y biết nhiều như vậy! Chẳng những tất cả kinh điển và chư tử bách gia mà còn các môn khác như vì sao trăng sáng trên bầu trời, khí hậu từng mùa, mưa gió sấm chớp đến cả cách trị bệnh thế nào, y đều biết hết ráo.

Sau khi học ở Thái học vài năm Vương Sung quay về quê nhà, quan địa phương biết học vấn của cậu bèn mời cậu ra làm quan. Tuổi cậu còn trẻ quá nên chỉ được làm trợ thủ của thái thú Cối Kê.

Có một năm trời đại hạn, nông nghiệp thất bát lương thực thiếu nhiều, gian thương thừa cơ nâng cao vật giá khiến đời sống nông dân càng khó khăn đành rời bỏ làng quê đi khắp nơi kiếm ăn, bọn giàu có phú hộ chẳng những không giúp đỡ gì người nghèo mà còn ra sức bóc lột, bọn quan phủ lại lấy gạo nấu rượu bán cho các nhà giàu, Vương Sung thấy tình hình ấy bèn kiến nghị với quan thái thú :

- Năm nay đại hạn, lương thực thiếu thốn, xin ngài hạ lệnh cấm chỉ nấu rượu để dành gạo đối phó với nạn đói, phải chăng đối với bọn nhà giàu cũng phải tiết chế chúng và lấy ít cương tiền cứu giúp người nghèo khó, có gì mà không được ?

Thái thú chỉ nhìn Vương Sung, lắc đâu không nói bỏ đi. Có người nghe chuyện ấy liền phê bình Vương Sung :

- Vương Sung thật không biết gì cả, hiện nay ai chẳng tham lam, chỉ có một mình y chẳng biết thời vụ, tất sẽ có ngày gặp chuyện không may đó thôi !

Vương Sung nghe câu chuyện ấy giận đến dở khóc dở cười rồi thêm mấy việc bất đồng với cấp trên nữa, ông mới nhận ra không hợp với bọn làm quan, nếu cứ ở đây chi bằng quay về theo đuổi học vấn, ông liền từ chức quay về nhà dạy học.

Về lại quê nhà dạy học nhưng cách dạy học trò của ông là phải có tư tưởng học tập không thể coi mỗi câu mỗi chữ trong sách đều là thiên kinh địa nghĩa.

Một hôm ông vừa dạy học xong có một đệ tử tuổi hơi lớn hỏi ông :

- Thưa thầy, khi con học ở chỗ khác họ dạy mỗi câu của Khổng Tử, Mạnh Tử đều đúng, thế nhưng ở nơi đây, thầy lại dạy không nên mê tìn thánh nhân, Khổng Tử, Mạnh Tử đều là thánh nhân, chẳng lẽ lời của họ có chỗ sai nữa sao ?

Vương Sung ngồi xuống đáp lời học sinh :

- Mạnh Tử và Khổng Từ đều là những thánh nhân rất đáng tôn kính, ta cũng rất tôn kính họ, bất quá thánh nhân cũng là người chứ đâu phải là thần tiên, là người thì không thể câu nào cũng đúng, lời của Khổng và Mạnh cũng thế.

Một học sinh khác khẩn thiết thỉnh cầu :

- Thưa thầy, xin thầy ví dụ một vài chỗ cho chúng con hiểu được chăng?

Vương Sung nói :

- Đương nhiên là được, trong “Luận ngữ” có một chuyện thế này : Khổng Từ đến nước Vệ muốn bái kiến phu nhân Vệ Linh Công là nàng Nam Tử, học trò ngài là Tử Lộ rất bất mãn cho rằng Nam Tử là người không xứng đáng để Khổng Tử gặp, Khổng Tử giải thích hành động của mình bằng lời thề : “Ta mà có làm gì không phải thì trời sẽ hại chết ta!”. Các con nghĩ mà xem, Tử Lộ có tin được lời ấy không?

Bọn học sinh đưa mắt nhìn nhau không ai trả lời, tất cả đều im lặng đợi Vương Sung nói tiếp, ông mỉm cười :

- Nếu cho rằng sấm sét có thể đánh chết người, lửa có thể thiêu người, nước có thể nhận chìm người, tường vách có thể đè chết người, ai cũng có thể tin được nhưng nào ai có thấy trời có hại chết ai bao giờ? Khổng Tử dùng lời thề bằng việc chưa hề xảy ra, làm sao Tử Lộ tin cho được?

Bọn học sinh ồn ào :

- Thầy nói hay lắm, xin giảng tiếp cho chúng con nghe.

- Những thí dụ như thế rất nhiều, gần đây ta chuẩn bị viết một thiên văn có tên là “ Vấn Khổng”(Hỏi Khổng Tử) chuyên kể về những việc ấy, đợi ta viết xong sẽ đưa các con xem. Tóm lại khi chúng ta đọc sách, nêu như có chỗ không hiểu ý thánh nhân thì cứ phải nên suy nghĩ và hỏi han, với những câu thánh nhân nói sai, ta cứ phản bác, như vậy đâu có gì là vô lý?

Một thầy dạy là phải như thế, không những truyền dạy tri thức mà còn phải hướng dẫn cho học sinh tự tìm tòi giải quyết vấn đề, Vương Sung chính là người thầy ấy.

Thời xưa, đa số đều không hiểu gì về khoa học, họ lấy làm kinh ngạc về khá nhiều hiện tượng tự nhiên. Thí dụ như tại sao mùa xuân, mùa hạ cây cối sinh sôi nảy nở  đến mùa thu, mùa đông lại tàn úa. Người ta cần ăn lương thực, dưới đất mọc lên loại ngũ cốc, cần mặc áo quần, đất lại sản sinh ra loại cây gai, cần làm nhà hoặc xe thuyền, đất lại có loại cây gỗ và các loại chim chóc cầm thú hình như cũng có đủ để chuẩn bị cung cấp thực phẩm cho con người. Vì không hiểu nên tất cả đều cho đó do một ông trời an bài như vậy, quan điểm ấy thống trị mọi vật mọi loài và xưa nay ai nấy đều cho có một ông trời đẻ ra mọi việc trên cõi đời này, thế nhưng Vương Sung lại không tin như thế, ông viết một cuốn sách tựa đề là “Luận hành” phản bác quan điểm như trên.

Vương Sung nói trời không phải là thần, chỉ là do không khí ngưng tụ mà thành. Trời và đất kết hợp lại vạn vật mới sinh trưởng ra, nhân loại phát hiện ra ngũ cốc ăn được nên mới trồng trọt lấy mà ăn, phát hiện ra cây gai có thể dệt thành vải mới lấy đó tạo thành quần áo, chứ đâu phải ông trời chỉ chuyên sinh ra ngũ cốc cho người ta ăn, sinh ra cây gai cho người ta mặc, như vậy chẳng là nói ông trời là nông phu và bọn phụ nữ nuôi tằm ư? Ông trời nào có để ý gì việc ấy?

Lại có người cho rằng ông trời thấy vua chúa làm việc tốt mới cho mưa thuận gió hòa, ngũ cốc phong phú để tán thưởng, còn nếu phát hiện vua chúa làm ác ông trời sẽ dùng sấm sét mưa tuyết để cảnh cáo, nếu vua chúa chưa tỉnh ngộ, ông trời sẽ cho người khác xuống làm vua, nhưng lời giải thích ấy Vương Sung thấy nực cười, ông bảo nếu như thế thật thì từ xưa đến nay kẻ bất tài làm vua nhiều quá, hết ông này đến ông khác, chẳng lẽ ông trời lại có nhiều kẻ bất tài đến thế ?

Nhà Vương Sung ở đầu làng, trước cửa nhà có một cây cổ thụ cành lá rậm rạp che mất cả khoảng lớn, mỗi lần hạ đến trai gái trong làng, sau bữa cơm đều rủ nhau đến đó vừa nghỉ ngơi vừa nghe ông nói chuyện cổ kim.

Một buổi tối nọ trời mát mẻ không trăng, tối mịt mù nông dân đốt đuốc ngồi vây quanh Vương Sung, đột nhiên tại một nghĩa đại gần đó hiện ra một cụm ánh sáng lấp lơ lấp lửng lúc to lúc nhỏ bay vất vơ vất vưởng, một đứa bé kêu to lên :

- Xem kìa! Lửa ma kìa!

Một lão nhân quay đầu lại hỏi Vương Sung :

- Vương tiên sinh, xin cho chúng tôi biết người ta sau khi chết rồi có hóa thành ma không ?

Vương Sung uống một ngụm trà chậm rãi đáp :

- Được, các vị suy nghĩ xem, người ta sống là nhờ cái gì ? Nhờ tinh khí đấy, tinh khí sinh ra huyết mạch. Người chết rồi tức huyết mạch khô kiệt sẽ biến thành bùn đất, do đó sau khi chết căn bản không thể biến thành ma được.

Một lão nhân khác lắc đầu cãi :

- Tiên sinh nói vậy không đúng. Ma là có thật, có người nhìn thấy rồi đấy.

- Nếu như người chết mà hóa thành ma thì những khi chúng ta đang đi trên đường rất dễ đụng phải ma, cứ nghe nói khi người ta sắp chết có thể nhìn thấy ma, nếu thật như thế thì y phải nhìn thấy cỡ muôn vạn con ma chứ sao chỉ nhìn thấy có một hai con?

Có một đứa bé mở tròn hai mắt :

- Thưa thầy nghe nói người ta sau khi chết có thể hại người sống được nữa đấy.

Vương Sung lắc đầu :

- Bình thời, một người khi nổi giận phải dùng tới khí, khi muốn hại người phải dùng tới lực, dùng lực thì gân cốt phải khỏe mạnh. Người chết, gân cốt tan rữa, khí lực đều mất, tay chân không thể cử động làm sao còn hại ai được nữa ? Ví như một người lâm bệnh nặng dù có nhìn thấy kẻ thù trước mặt cũng chẳng làm gì được, người khác có lấy của hắn vật gì hắn cũng đành nằm im, xưa nay chưa hề có việc trái ngược, làm sao chứng minh được người chết có thể hại người sống?

Vương Sung giải thích trời như thế rất giống với Tuân Tử, ông chính là một nhà tư tưởng sâu sắc và là một nhà giáo dục lớn.

 

2.PHÁP HIỂN : XUẤT DƯƠNG TÌM HỌC

 

 

Pháp Hiển(vào khoảng năm 337 đến năm 442) là một tăng nhân đời Đông Tấn, người ở tỉnh Bình Dương, năm 339 Pháp Hiển xuất phát từ Trường An đi xuyên qua sa mạc vượt núi non đến Ấn Độ thỉnh kinh. Sau đó ông lại đến Sư Tử quốc và nhiều nước khác nữa, năm 412 mới quay về Trung Quốc, trước sau tổng cộng 40 năm hành trình, ông đi hàng vạn dặm băng băng qua hơn 30 quốc gia. Pháp Hiển là người Trung Quốc đầu tiên đến Ấn Độ thỉnh kinh cung cấp cho Trung Quốc hiểu biết thêm rất nhiều về quốc gia lân cận.

Phật giáo là một trong ba tôn giáo lớn nhất thế giới (hai tôn giáo kia là Cơ Đốc giáo và Hồi giáo) được sáng lập bởi Thích Ca Mầu Ni ở Ấn Độ từ hơn 1500 năm trước (tính đến thời của Pháp Hiển). Đầu đời Đông Hán, Phật giáo truyền vào Trung Quốc. Trải qua hơn 300 năm truyền bá và phát triển đến đời Đông Tấn, Phật giáo đã rất thịnh hành. Bấy giờ Đông Tấn không thống nhất được Trung Quốc, chung quanh nó còn nhiều tiểu quốc của các dân tộc khác, những tiểu quốc này thường hay tấn công quấy nhiễu Trung Quốc khiến dân chúng hết sức khổ sở vì muốn cầu cứu thần Phật bảo vệ nên người tin theo đạo Phật rất đông. Khi Pháp Hiển mới lên 3 tuổi đã bị phụ mẫu đem vào chùa làm tu sĩ.

Bấy giờ, Phật tữ nhiều nhưng người hiểu biết kinh Phật lại quá ít vì thời ấy chưa phát minh được kỹ thuật in ấn, những kinh Phật chỉ được truyền miệng, chính thế mà càng lưu truyền sự sai lạc càng nhiều, nhưng đa số các hòa thượng lúc ấy xuất gia chỉ vì trốn tránh chiến tranh và kiếm ăn nên chẳng có ai chịu bỏ công nghiên cứu kinh điển.

Pháp Hiển là người yêu thích tìm tòi học hỏi, bất cứ việc gì cậu cũng muốn hiểu đến nơi đến chốn mới thôi, cậu đọc kinh Phật nhiều chỗ không hiểu gì cả bèn hỏi những vị hòa thượng lớn tuổi, những lão hòa thượng ấy không thể giảng giải rõ ràng được, còn muốn đọc từ nguyên bản những kinh Phật ấy lại là việc khó phi thường. Cứ như vậy những chỗ mơ hồ càng ngày chất chứa càng nhiều không làm sao giải quyết được. Cậu bé Pháp Hiển đành dự định phải tới Ấn Độ. Cậu đem ý ấy nói với bạn thân là Tuệ Cảnh, Tuệ Cảnh rất cao hứng :

- Cậu và tớ sẽ cùng đi, nhưng mà…

Pháp Hiển hỏi lại :

- Sao ? Cậu sợ đường xa đi không dễ chăng ?

- Không phải, tớ thấy cậu đến 60 tuổi mới có thể tới được Ấn Độ, lỡ ra giữa đường gặp tai nạn gì, lúc ấy biết làm sao ?

Pháp Hiển đáp :

- Dù sao trước khi chết mà được nhìn thấy thánh địa là đủ thỏa tâm nguyện rồi, chết như vậy cũng xứng đáng lắm.

Và như vậy năm 399 Pháp Hiển cùng Tuệ Cảnh và ba vị hòa thượng nữa bắt đầu rời Trường An lên đường đi Ấn Độ. Họ theo “con đường tơ lụa” đi về hướng tây, sau hơn một tháng họ tiến vào vùng sa mạc, nơi đây không một bóng nhà cửa, gió bão nổi lên khiến đá bay cát chạy che kín cả bầu trời, ba hòa thượng cùng đi hoảng sợ xin quay về Trường An, chỉ còn lại hai người là Pháp Hiển và Tuệ Cảnh tiếp tục lên đường. Họ trải qua muôn vàn hiểm nguy, vượt qua nhiều ngọn núi tuyết phủ quanh năm, cuối cùng mới tới được vùng bắc bộ Ấn Độ.

Sau khi thăm các tự viện ở bắc Ấn và tây Ấn, họ tiến vào vùng trung Ấn là nơi thánh địa của Phật giáo và đến vườn Cáp Cô Độc là nơi xưa kia Thích Ca Mâu Ni đã ở lại 25 năm. Các tăng sĩ trong ườn Cáp Cô Độc thấy một lão tăng nước ngoài đến, đều lấy làm kinh ngạc hỏi :

- Ngài từ nước nào khác đến đây phải chăng ?

Pháp Hiển đáp :

- Bần tăng từ đất Hán đến đây.

- Cái gì ? Ngài từ đất Hán xa xôi đến đây ? Thật là hết sức tưởng tượng, chúng tôi ở đây đã lâu lắm chưa từng nghe có tăng nhân người Hán đến được đây.

Pháp Hiển chắp tay thành khẩn :

- Nước chúng tôi thiếu rất nhiều kinh điển Phạt giáo nên bần tăng mới mạo hiểm tới Ấn Độ xin kinh, giữa đường nhiều lần tưởng bỏ mạng, may nhờ Phật tổ gia hộ mới bình an tới được đây.

Vị trụ trì vườn Cáp Cô Độc dẫn Pháp Hiển vào phòng chứa kinh điển, thì ra trong phnòg chứa kinh này cũng chẳng có nhiều kinh sách gì cho lắm, hỏi ra mới biết nơi đây cũng như mọi nơi, học tập kinh Phật chủ yếu cũng chỉ dựa vào khẩu truyền, do đó không cần sao chép kinh Phật nhiều làm gì.

Bấy giờ Ấn Độ chưa biết chế ra giấy, những kinh Phật chỉ được chép lên những lá cây gọi là lá “Bối diệp”, chỉ cần lật chép mấy lần là rất dễ vỡ nát, vì vậy các kinh Phật ở đây khôg dễ cho phép người ngoài động tới.

Vì đường xa tìm đến nên Pháp Hiển được đặc cách cho phép xem kinh, nhưng Pháp Hiển hết sức khổ sở vì kinh Phật ở đây chỉ chép toàn bằng chữ Phạn (văn tự cổ của Ấn Độ) nên ông không đọc được một chữ nào, ông nghĩ thầm : “ Vì muốn xin kinh ta đã trải qua muôn vàn gian khổ, đến tính mạng suýt cũng không còn, lẽ nào bây giờ lại vì không biết văn tự mà bỏ uổng công sao?”

Vì muốn đọc được kinh Phật, Pháp Hiển quyết tâm phải học cho được chữ Phạn, năm ấy ông đã 70 tuổi nhưng chẳng khác gì một học trò nhỏ, bắt đầu học từng chữ một. Tuổi đã lớn, trí nhớ cũng kém nhưng ông bù lại bằng sự cần cù chăm chỉ, gặp chỗ nào khó ông không ngại công khó tìm hỏi khắp nơi, mỗi lần học được một từ mới ông cảm thấy vô cùng sung sướng.

Cùng với thời gian học chữ Phạn, Pháp Hiển còn tranh thủ tìm thăm những di tích Phật giáo ở Ấn Độ và tiếp xúc với mọi giới bình dân bản địa sưu tầm được nhiều hiểu biết lý thú. Ông từng đến nơi gọi là vườn Lộc Dã, ba năm sau Pháp Hiển đã thông thạo chữ Phạn, chẳng những ông nghe thuần thục được những kinh khẩu truyền bằng tiếng Phạn mà còn đọc trôi chảy các kinh viết bằng chữ Phạn nữa.

Sau bảy năm ở lại Ấn Độ học tập, Pháp Hiển muốn đến thăm các quốc gia khác, ông xin đi theo một thuyền buôn đến Sư Tử quốc. Ở đảo quốc này, ông tìm được 9 bộ kinh Phật. Năm 441, Pháp Hiển lại đi theo một thuyền buôn hương liệu quay trở về cố hương, tính ra ông đã xa cách quê nhà đến 19 năm trường mới về đến Quảng Đông. Năm ấy ông đã 80 tuổi, tự nhận ra mình sức suy lực kiệt ông bèn đem hết những điều mắt thấy tai nghe viết thành cuốn “Phật quốc ký”(Ghi lại chuyện ở nước Phật). Ông đến Kiến Khang trú ngụ, sau lại đến Kinh Châu tiếp tục dịch Phật chữ Phạn ra chữ Hán, trước sau ông dịch một trăm vạn chữ, đại bộ phận những kinh do ông dịch vẫn còn đến ngày nay và có tác dụng lớn đến sự phát triển của Phật giáo Trung Quốc.

 

 

3.ĐÁI CHẤN : DỐC LÒNG CẦU HỌC

 

 

Đái Chấn (1723 – 1777) tự là Thận Tu, người tỉnh An Huy là một học giả và tư tưởng gia đời nhà Thanh. Từ thuở thanh niên ông đã hoạt động trong ngành giáo dục, đời ông phần lớn thời gian nghèo khổ nhưng nỗ lực lại hơn mọi người nên từ triết học, khảo cổ học, cổ văn tự học cho đến lịch sử, thiên văn, lịch pháp, số học ông đều có thành tựu lớn.

Lúc còn nhỏ gia đình Đái Chấn nghèo khổ, tuy cậu bé vẫn được đi học nhưng nhiều lúc phải tạm nghỉ vì hết tiền đóng học phí, trong thời gian nghỉ học cậu theo cha buôn bán vặt vãnh, nhưng cậu không vì thế mà quên việc học. Trong lớp học, cậu là một học sinh trầm lặng ít nói và đối với việc học cậu đặc biệt chuyên tâm cố gắng, chỉ cần cậu ngồi vào bàn học thì bất kể bên ngoài trời nắng mưa bão táp ra sao cậu đều không để ý gì đến nữa. Rất sớm, cậu đã là một học sinh xuất chúng, tất cả bạn cùng học chỉ cần hỏi cậu là được giải đáp một cách hết sức tường tận.

Năm cậu bé Đái Chấn 10 tuổi, một buổi nghe thầy giảng “Đại học chương cú” có nói :

- Trong chương này là lời của Đức Khổng Tử do đệ tử là Tăng Tử thuật lại và đệ tử của Tăng Tử chép thành sách.

Đái Chấn đứng dậy lễ phép hỏi :

- Thưa thầy, như vậy thì làm sao biết chắc đó là lời của Đức Khổng phu tử ? Và làm sao biết là do Tăng Tử ghi thành sách.

Vị thầy giáo nhìn cậu, tùy tiện đáp :

- Đó là do đại nho Chu Hy nói vậy.

Đái Chấn chưa chịu buông tha :

- Thưa thầy, Chu Hy là người thời nào vậy ?

- Người thời Nam Tống.

- Thế còn Khổng Tử, Tăng Tử sống ở thời nào ?

- Thời Đông Chu.

- Nam Tống cách Đông Chu bao nhiêu năm ?

- Suýt soát hơn hai ngàn năm.

- Thưa thầy, thời gian xa tới hai ngàn năm, làm sao mà Chu Hy biết tường tận như vậy.

Vị thầy bị cậu hỏi toát mồ hôi trán, ông ấm ứ mấy tiếng, lấy làm khó khăn đáp :

- Làm sao Chu Hy biết, ta cũng không rõ,

- Làm sao Chu Hy biết, ta cũng không rõ, nhưng tất cả mọi người đều giảng như thế, chúng ta cũng chỉ hiểu như thế mà thôi.

Vị thầy dạy ấy tuy bị cậu hỏi đến độ ngắc ngứ nhưng trong lòng lại lấy làm cao hứng, tự thấy vui vì mình có cậu học sinh chịu khó suy luận đến thế, sau này mỗi lần dạy bài nào, thầy rất chú ý đến cách lý giải của cậu học trò Đái Chấn.

Một hôm thầy dạy “Kinh Thi” và bắt học trò ôn tập. Ông bước lại gần Đái Chấn thấy cậu đang ngồi vẽ một bức tranh chiếc xe chiến thời cổ, ông thầy kinh ngạc trợn tròn mắt, sau này thầy nói với cậu :

- Đời Đông Hán có một đại học vấn gia tên là Hứa Thận có viết sách “Thuyết văn giải tự” giải thích từng hình chữ âm chữ, con hãy đọc sách ấy thì không khó giải thích các chữ cổ đâu.

Đái Chấn nghe, vui mừng cơ hồ muốn nhảy cẫng lên, từ đó,dường như ngày nào cậu cũng ôm cuốn “Thuyết văn giải tự” học suốt 3 năm, cậu thuộc lòng từng chữ trong ấy. Năm 16 tuổi, cậu bé Đái Chấn đã trở thành một người uyên bác.

Năm 1741 Đái Chấn 18 tuổi, cậu theo cha lên Giang Tây tiếp tục việc học. Cha cậu dậy từ khi trời mờ tối buôn bán lặt vặt vì vậy thu nhập rất ít, cả nhà sống chật vật khiến cậu Đái Chấn lấy làm buồn bã. Một hôm cậu nói với cha :

- Cha ơi, cứ để cho con đi làm chứ cả nhà chỉ trông cậy vào một mình cha sao được ?

Cha cậu buồn rầu :

- Con từ nhỏ chỉ biết học, sức khỏe sợ không làm được việc gì, nhưng dù có sức khỏe đi nữa thì con định làm gì nào ?

Cậu rất tự tin đáp :

- Con có thể dạy học, cần gì nhiều sức khỏe ?

Cha cậu bán tính bán nghi :

- Con còn nhỏ thế này, làm thầy giáo được ư ?

Cậu khẩn cầu :

- Xin cứ cho con thử xem sao, cha quen biết nhiều cứ dọ hỏi tìm cho con chỗ dạy.

Mấy hôm sau phụ thân cho cậu biết, cách huyện Nam Phong không xa có trấn Thiệu Võ có thể là nơi mở trường được. Đái Chấn thu dọn chút hành lý đơn giản, đến đó làm một ông thầy trẻ tuổi.

Đó chỉ là một trường tư giữa vùng núi thu nhận được hơn 20 học sinh, đứa bé nhất mới 5, 6 tuổi còn đứa lớn lại hơn 20 tuổi, bọn chúng theo học thấy thầy cũng còn quá trẻ nên đều xem thường, có mấy học sinh lớn luôn luôn làm khó khăn cho cậu, hỏi vặn nhiều câu ly kỳ cổ quái để bắt cậu trả lời. Thế nhưng chẳng có câu hỏi hiểm hóc nào Đái Chấn không trả lời được nên bọn học sinh khâm phục.

Trong trấn có vị tú tài đã trên 60 tuổi quanh vùng công nhận là người có học vấn nhất. Nghe bọn học sinh khen ngợi thầy học, lão tú tài ấy khinh khỉnh nói :

- Tên thầy giáo nhỏ tuổi ấy mà biết gì, để ta đến thử xem nó có bao nhiêu kiến thức!

Trưa ngày hôm sau, vị tú tài già lão âm thầm đến trường tư của cậu Đái Chấn, lão lặng lẽ đứng bên ngoài cửa sổ nghe cậu dạy sách “Mạnh Tử”. Lão nghe Đái Chấn rất bình tĩnh chậm rãi giảng giải, Đái Chấn chẳng những giảng rõ những chú giải của Chu Hy mà còn dẫn chứng tài liệu của cả bách gia chư tử, cậu còn giải nghĩa từng chữ theo “Thuyết văn giải tự”. Học vấn uyên bác của cậu và những lời thuyết phục của cậu rất hấp dẫn bọn học trò, vị lão tú tài đứng bên ngoài nghe mê mẩn ngẩn cả người. Đái Chấn thấy bên ngoài có người, sau khi giảng bài xong, cậu bước ra cung kính hỏi :

- Vãn bối giảng không hay gì, xin tiền bối chớ cười.

Lão tú tài vội vàng đáp :

- Bội phục, bội phục, ta xin bội phục.

Sau ấy lão tú tài ấy gặp cha cậu, rất thành thật nói :

- Lệnh lang tuy tuổi còn nhỏ mà học vấn đã sâu xa, tương lai sẽ trở thành đại nhân vật đấy.

Đái Chấn chỉ dạy học Nam Phong mấy năm rồi trở về quê, vừa tiếp tục học tập vừa dạy học trò, tiền học phí ông lấy rất thấp nên thường xuyên thiếu ăn thiếu mặc. Thế nhưng Đái Chấn chẳng quan tâm gì đến chuyện ấy, trong lúc dạy học ông hay đả kích lối giảng giải theo truyền thống cũ và phản đối tư tưởng của Chu Hy, vì vậy bọn cường hào trong làng và bọn lão học giả thường coi ông như cái đinh trong mắt, họ rình cơ hội để khích bác ông.

Có một lần, bọn họ trích từng câu trong thơ văn ông ngụy tạo nghĩa mới vu cáo tội danh, chuẩn bị thưa ông lên quan tố cáo ông đả kích triều đình. Sau khi Đái Chấn biết tin ấy ông vừa buồn vừa giận, ông biết cái “ngục văn tụ” triều Thanh rất nguy hiểm, hễ bị lên án nặng thì bị giết hết gia tộc, nhẹ thì cũng bị lưu đày và lúc định án tùy vào sự vui buồn của Hoàng đế, căn bản không thèm cho họ cáo thân oan giải thích gì cả, đã có biết bao kẻ sĩ oan uổng phải vĩnh viễn ôm hận dưới suối vàng. Đái Chấn nói với cả nhà :

- Ta chỉ có một con đường đào tẩu, bọn hào phú ở đây dựng chuyện với mục đích buộc ta rời khỏi nơi đây. Ta bỏ đi rồi chắc chúng cũng dẹp bỏ ý định hãm hại ta.

Không mang theo hành lý, đêm ấy Đái Chấn rời quê nhà tìm lên Bắc Kinh, tại nơi này ông không có một thân nhân, chẳng có hành lý quần áo, cũng chẳng có nơi tạm dung thân, ông đành ở một hội quán bố thí không lấy tiền. Có nhiều ngày ông không có cháo mà ăn, trong hoàn cảnh bi thảm ấy mà không ngày nào ông quên việc đọc sách nghiên cứu học vấn.

Sau này nhờ sự giới thiệu, ông dạy học cho con của học giả trứ danh đồng thời là một quan lớn lúc ấy là Kỷ Quân. Lần nọ, ông đang giảng dạy cho con của Kỷ Quân về cuốn “Thuyết văn giải tự” đúng lúc ấy Kỷ Quân đi qua ngoài cửa bèn dừng chân lại lắng nghe. Nghe một hồi bất giác Kỷ Quân bước vào phòng học ngồi luôn xuống một cái ghế. Đái Chấn vì đang tập trung hết tinh thần vào việc giảng bài nên không chú ý có người bước vào cứ giảng hết đoạn dở rồi mới xoay đầu nhìn thấy Kỷ Quân, ông vội chạy đến có phần hoảng hốt bất an.

- A! Đại nhân đến đấy ư, xin được đại nhân chỉ điểm.

Kỷ Quân bước lại gần nắm lấy tay Đái Chấn, thành khẩn nói :

- Không ngờ Đái tiên sinh học vấn cao đến vậy, từ nay ta có thể đàm đạo được đấy.

Do sự giới thiệu của Kỷ Quân nên từ đó rất nhiều học giả trứ danh lai vãng kết thân với Đái Chấn, tất cả các học giả ấy đều xưng tụng học vấn của Đái Chấn. Từ đó Đái Chấn nổi tiếng trong giới học thuật, không thiếu gì quan quyền, học sĩ đua nhau kết thân với ông, nhờ vậy nhãn giới Đái Chấn càng được mở rộng, tri thức cũng phong phú hơn, tư tưởng tiến thêm một bước mới.

Năm 1759 Đái Chấn đến Dương Châu lần thứ hai ở lại ba năm. Tại đây, ông vừa thu nhận học trò vừa trứ thuật sáng tác, sau đó ông đi thi và đỗ cử nhân. Một buổi chiều nọ Đái Chấn đang giảng giải cho học trò về yêu cầu và phương pháp học vấn, các môn đệ học trò vây quanh ông hỏi đủ mọi vấn đề, một học sinh hỏi :

- Thưa thầy , học sách nào mới có tiến bộ mau ?

Ông suy nghĩ trả lời :

- Theo thầy chủ yếu có bốn điểm : một, đừng để quan điểm người khác chi phối mình; hai, cũng đừng để thành kiến chi phối mình; ba, đừng vội vàng ham đạt tới đỉnh cao; bốn, đừng thèm muốn lưu danh hậu thế. Khi học nên tìm hiểu kỹ từng chân tướng vấn đề, phải xác định rõ mục đích, không nên có thành kiến gì sẵn mới có thể thâm nhập vào vấn đề ta cần biết.

Một học sinh có vẻ nghi hoặc chưa hiểu :

- Học vấn đạt được thành tích không thể nổi tiếng được sao ?

- Đương nhiên, bậc đại học gia là nhờ công trứ thuật, nếu nổi tiếng bây giờ tất nhiên đời sau cũng nổi tiếng, đó là sự thật. Thầy muốn nói là, kẻ học không nên chỉ nghĩ đến sự nổi tiếng trước tiên. Tại sao vậy ? Vì khi trong lòng đã nghĩ tới việc làm gì để nổi tiếng, y sẽ dễ dàng quên nguyên tắc thật sự cầu thị và không ngại gì mà áp dụng thủ đoạn bất chính hoặc sẽ cố công kích tiền nhân coi những người đi trước như không có và tự kiêu cho mình là cao minh nhất hoặc là sẽ hoàn toàn bắt chước người trước học như con vẹt. Hai cách ấy bên ngoài thì tưởng khác nhau nhưng kết quả cũng chỉ là một mà thôi.

- Thưa thầy nói vậy kẻ học thức phải là người có đạo đức cao thượng đúng không ?

- Đúng, kẻ học thức mà không có đạo đức cao thượng thì thành quả của y khó mà thuyết phục được người khác.

- Thưa thầy trong học vấn cái gì là khó nhất ?

- Học vấn có ba điều khó : một là khó uyên bác vì tri thức trong thế giới nhiều như rừng như bể mà tri thức mỗi người chỉ có hạn; hai là khó phán đoán, tài liệu cần học nhiều như rừng như bể ấy cái nào là thật cái nào là giả, cái nào giá trị tới đâu phán đoán không phải là dễ; thứ ba là khó minh xác, mỗi một tri thức đều có nhiều phương diện, mỗi vấn đề đều có cả núi tài liệu, làm sao ta nói rõ được cái bản lai diện mục từng tài liệu ta cần và phán đoán cho tinh xác đó là việc cực khó. Ba cía khó ấy chính ta đến nay cũng chưa vượt qua được.

Các học sinh đều cảm động vì thái độ khiêm tốn của Đái Chấn, họ đều biết tri thức của thầy đã đạt tới mức phong phú phi thường, ông đã từng nghiên cứu sâu sắc mọi môn học như kinh học, thiên văn, địa lý, số học, âm vận..v.v… Thế mà ông vẫn tự khiêm nhường là chưa vượt qua ba cửa ải khó khăn ấy, ông thật không thẹn là bậc đại học vấn vậy.

Trong triều Thanh, tư tưởng của Trình Hiệu (người đời Tống) là tư tưởng có địa vị thống trị. Bọn Trình Hiệu, Chu Hy sáng lập nên “lý học” và được xưng trọng là “Trình Chu lý học” vì nó đã cho rằng chế độ phong kiến xã hội trở thành “thiên lý” (đạo trời) và rất tốt cho sự thống trị phong kiến, cho nên bọn vua quan triều Thanh hết sức tôn sùng học thuyết ấy, chính vì vậy “lý học” vô cùng thịnh hành trong xã hội.

Đái Chấn kiên quyết phản đối “lý học”, đặc biêt là ông phản đối lễ giáo phong kiến. Có lần trong lúc dạy học, ông nói :

- Chu Hy có một danh ngôn nói : “Đói chết là việc nhỏ, thất tiết mới là chuyện lớn.” Cái đó chẳng hợp với tình người chút nào và cũng chẳng hợp với đạo trời. Các con hãy nghĩ xem, một người đàn bà chồng chết khi còn tuổi trẻ mà cứ khư khư thủ tiết thì khổ sở biết chừng nào ? Kêu cầu người ta thà chết đói không được cải giá là hợp với nhân tình hay sao ? Ác độc hơn nữa là khuyến khích đàn bà phải chết theo chồng thậm chí mới là vị hôn thê chưa thấy mặt nhau bao giờ cũng phải chết theo vị hôn phu lỡ chết kia, ai chết thì được biểu dương khen tặng là “Tiết phụ khả phong”. Nói thực, mỗi lần ta nhìn thấy cái bảng gọi là “Tiết phụ khả phong” ta lấy làm khó chịu căm phẫn, đó chỉ là chiêu bài hy sinh các phụ nữ vô tội mà thôi !

Đái Chấn còn xúc động nói :

- Gần đây ta còn nghĩ hiện tại có ai cảm động vì nhắc tới “thiên lý” nữa không, vì các trò có biết cái “thiên lý” ấy đã giết chết bao nhiêu người rồi ? Chuyện bi thảm nhất là, người bị đao kiếm giết còn có người thương xót, chứ người bị “thiên lý” giết chẳng có ai thương xót cả. Chúng ta đi đến đâu cũng có thể nhìn thấy cái bảng “Tiết phụ khả phong” mà có ngửi thấy mùi máu tanh của vô số phụ nử bị “thiên lý” giết chết hay không ?

Thanh triều có biên soạn một bộ tùng thư tên là “Từ khố toàn thư” rất nhiều học giả trong nước được mời về triều đình tham gia công việc biên soạn ấy. Năm Đái Chấn 51 tuổi, ông cũng bị mời đảm nhiệm phần viết về lịch pháp, địa lý, và toán số trong bộ sách ấy. Năm 1775 Đái Chấn thi điện thí lần đầu và đỗ tiến sĩ đầu bảng.

Một buổi chiều Đái Chấn từ “Tứ khố toàn thư quán” quay về nhà đúng vào lúc vị học giả nổi tiếng Đoàn Ngọc Tài đến thăm ông, Đoàn Ngọc Tài từng học với Đái Chấn nên vẫn cung kính :

- Lần này tiên sinh làm quan thật là vinh dự lớn, ân đức của đấng Hoàng thượng thật quả nặng như núi.

Đái Chấn nhỏ giọng xuống như than :

- Ông thật không rõ sự tình đấy chứ ? Thực sự ta được mời tới đây chỉ là để sửa đổi san định những điều không hợp lý trong sách cổ, hễ chỗ nào trong sách cổ không hợp với “thiên lý” ngày nay là ta phải sửa đổi. Có nhiều chỗ không cách nào sửa đổi nổi đành phải bỏ hẳn đi, vì như thế nên ít nhiều giá trị của cổ thư cũng bị hủy bỏ thật là đáng tiếc lắm, nhưng nếu không san định sửa đổi, lỡ bị phát giác ra thì ta ắt bị tội chết !

Đoàn Ngọc Tài nhìn vị giáo lão sư như sắp muốn khóc, bèn an ủi :

- Chi bằng tiên sinh biên soạn lại không dễ hơn sửa đổi san định ư ?

Đái Chấn lau mắt :

- Ta chỉ phụ trách phần lịch pháp, toán thuật và địa lý. Đương nhiên là phần phạm húy có ít hơn những phần khác, nhưng ta vẫn hết sức lo lắng chỉ sợ có chỗ nào không hợp với ý của đoạn trên thì ta bị giáng tội.

- Như vậy tiên sinh dự định ra sao ?

- Ta bị mời tới đây cũng đã là miễn cưỡng, từ hôm ấy ta đã muốn cáo từ, gần đây ta định mượn lý do cơ thể suy yếu xin được quay về, tự nhiên ta sẽ chẳng bao giờ tới đây nữa.

- Vãn bối rất tán thành ý kiến của tiên sinh.

Đoàn Ngọc Tài nhỏ giọng nói câu ấy. Cả hai người hội ý mỉm cười.

 

 

4. HÀN DŨ : KHÔNG ĐỌC SÁCH XẤU

 

Hàn Dũ (768-824) tự là Thối Chi, người vùng Hà Dương là văn học gia đời Đường, ông từng làm quan đời nhà Đường, nhiều lần bị tội biếm quan, ông là người đề xướng cuộc “vận động cổ văn” mở ra một văn phong mới có ảnh hưởng đến sau này.

Cha mẹ Hàn Dũ đều mất khi cậu còn rất nhỏ, cậu được người anh là Hàn Cối đang làm quan ở kinh thành nuôi dưỡng. Hàn Cối rất tốt với em, dạy em đọc sách và làm người tốt. Khi Hàn Dũ 10 tuổi, Hàn Cối bị người vu cáo bị biếm quan đến Thiều Châu, ông đem cả gia đình theo. Từ kinh đô Trường An đến Thiều Châu lộ trình dài vài ngàn dặm. Trên đường đi, tuy tâm tình Hàn Cối buồn bực nhưng vẫn giảng giải cho em về những chuyện xưa. Kí ức của Hàn Dũ cực tốt, cậu ghi nhớ những lời giảng của anh.

Đến Thiều Châu không lâu, vì trong lòng buồn bực lại không quen với thủy thổ nên Hàn Cối sinh bệnh rồi chết. Chị dâu cậu là Trịnh thị được bằng hữu giúp đỡ đưa tất cả về quê cũ Hà Dương. Sau khi an táng Hàn Cối, Trịnh thị lo lắng nói với Hàn Dũ và các con :

- Đời người ngắn ngủi, các con hãy cố gắng học tập, tuy không cần hiển hách trong nhất thời nhưng cũng không uổng một đời.

Bấy giờ Hàn Dũ cũng đã hiểu biết, cậu hiểu rằng đó là những lời chân tình của chị dâu, từ đó, mỗi khi gà vừa gáy sáng, cậu bé Hàn Dũ đã thức dậy rửa ráy rồi vào thư phòng bắt đầu học. Họ Hàn đời nào cũng có người làm quan nên sách vở tích trữ rất nhiều, Hàn Dũ bắt đầu học từ các sách “Luận Ngữ” “Mạnh Tử”, khi nào gặp chỗ không hiểu, cậu liền hỏi chị dâu, nhưng khi cậu học đến các sách “Kinh thư” và “Kinh dịch” chị dâu cậu không đủ sức giải thích, Hàn Dũ đành phải tìm tới các người có học để xin thỉnh giáo, cứ như vậy, cậu tuần tự đọc các sách “Lão Tử” “Trang Tử” và các tản văn đời Tiên Tần.

Một hôm chị dâu cậu nói với cậu :

- Này em, em đã lớn rồi, hãy đến Lạc Dương mà cầu học, nơi ấy kẻ học giả nhiều có thể mở rộng hiểu biết cho em.

Ngày hôm sau, cậu và một thư đồng lên đường đi đến Lạc Dương. Sau kh iđi đến Lạc Dương, Hàn Dũ đi thăm hết thân bằng cố hữu của nhà học Hàn, họ thấy cậu biết lễ giáo và cũng có chút học vấn đều mời cậu đến ở tạm nhà, Hàn Dũ cảm tạ hảo ý của họ, tự tìm một gian nhà tranh cư trú bắt đầu cuộc sống của một học trò nghèo khó.

Cậu bé Hàn Dũ mặc áo vải gai mỗi ngày ăn hai bữa cơm đạm bạc còn bao nhiêu thời gian đều chú tâm vào việc học, có lúc cậu học đến canh ba nửa đêm mới ngủ.

Có một lần, Hàn Dũ và các bạn đàm luận văn chương, cậu nói :

- Đọc sách cũng như nếm rượu, văn chương hay đọc là thấy sung sướng liền, còn loại văn chương xấu đọc thật xấu hổ.

Bạn bè cùng hỏi :

- Theo ý cậu ai là người viết văn hay ?

- Nói về thời Tiên Tần, đương nhiên có Mạnh Tử, Trang Chu, còn thời lưỡng Hán, Đổng Trọng Thư là người đệ nhất, sau đó là Giả Nghị, Dương Hùng, văn chương của họ hình thức tự do, ngôn ngữ động lòng người, ý nghĩa hàm súc.

Sau này Hàn Dũ trở thành một đại văn học gia tích cực hướng dẫn mọi người học tập tản văn đời Tiên Tần và lưỡng Hán, phản đối lối biền thể trói buộc, trở thành một lãnh tụ trong cuộc “vận động cổ văn”.

Sau một thời gian ở Lạc Dương, Hàn Dũ lên kinh đô Trường An tìm thầy, liền đó ông tham dự thi cử, đậu tiến sĩ làm một chức quan giám sát ngự sử. Chức quan ấy tuy không lớn nhưng có quyền “đàn hặc” (tra xét tội trạng) các quan viên trong chính phủ.

Một năm nọ ở vùng Quang Trung xảy ra trận hạn lớn, rất đông dân nghèo bị buộc phải lìa bỏ gia hương kéo về kinh đô Trường An, bọn họ mặc không đủ ấm đi khắp nơi xin ăn, không ít người chết đói ngoài đường. Vì cần nghiên cứu kỹ càng tình trạng hạn hán, Hàn Dũ phải ăn như một nông dân nghèo đi tìm hiểu.

Ngoài thành Trường An tình cảnh thật thê thảm : ruộng đầt hoang tàn, cây cỏ chỉ còn lại những cành khô, trong thôn vắng bóng khói bếp, mười nhà hết chín đã bỏ đi nơi khác kiếm ăn, người ở lại đành hái cây cỏ ăn qua ngày.

Hàn Dũ hiểu ra, vì phải nạp thuế cao, có nhà phải tháo nhà ra đun bếp, còn có nhà vì nuôi con dại không nổi phải quăng chúng xuống sông cho chết. Ông nghĩ bụng : “Tình hình quá nghiêm trọng, sự sống của muôn dân quá bi thảm nhưng bọn quan lại vẫn cứ lừa dối Hoàng thượng là thời tiết tuy xấu nhưng lúa gạo chưa đến nỗi chết hết. Ta phải cho Hoàng thượng biết sự thật.”Ngay đó ông lập tức viết tờ tấu miêu tả sự đói khổ của nhân dân vùng Quang Trung thỉnh cầu Hoàng thượng miễn tô thuế cho nhân dân.

Hành động ấy của Hàn Dũ làm phật ý bọn có chức có quyền đặc biệt là Lý Thực đang được Hoàng đế tín nhiệm., hắn tâu lên nói là Hàn Dũ thổi phồng tình hình tai họa, nếu như y theo lời Hàn Dũ, tất cả nơi khác cũng xin giảm tô thuế, triều đình làm sao có đủ tiền chi dụng. Đường Đức Tông nổi giận, lập tức hạ chiếu giáng chức Hàn Dũ xuống làm huyện lệnh ở Dương Sơn Liên Châu.

Qua một năm, ông vua hôn ám Đường Đức Tông qua đời, Hoàng đế mới lên ngôi, Hàn Dũ lại được gọi về kinh đô Trường An làm học sĩ ở Quốc Tử giám (tương đương với chức giáo sư đại học thời nay), học thức của Hàn Dũ uyên bác, giảng dạy sinh động nên được đa số học sinh yêu thích và kính phục.

Có một bữa, trong nhà Hàn Dũ tụ tập đông bằng hữu và học sinh, họ bàn luận lịch sử, bình phẩm văn chương rất náo nhiệt, một học sinh hỏi Hàn Dũ :

- Thưa thầy, thầy chủ trương viết văn lấy thánh hiển xưa như Vương Bột viết “Đằng Vương các” nhưng áng văn ấy thiên về hình thức đẹp nên không chú ý đến sự sinh động của nội dung, mỗi câu chỉ dùng 4 đến 6 chữ và đối ngẫu ép vần lại còn dùng nhiều điển cố như vậy tư tưởng bị gò bó.

Bài khác